“Sự cố tràn dầu” có thể coi là một cụm từ khá đặc biệt trước các vấn đề ô nhiễm biển hiện nay. Vấn đề này được Nhà nước ta cũng như toàn thế giới đặc biệt quan tâm. Những hậu quả nghiêm trọng từ những sự cố tràn dầu này là vấn đề nghiêm trọng nó không chỉ ảnh hưởng riêng biệt bởi một cá nhân hay tổ chức nào mà nó mang tính cộng đồng. Là nỗi lo chung của toàn xã hội. Để khắc phục điều này Nhà nước ta đã ban hành những nguyên tắc quan trọng và thiết thực trong công tác hoạt động ứng phó sự tràn dầu.
1. Sự cố tràn dầu là gì?
Sự cố tràn dầu là hiện tượng dầu từ các phương tiện chứa, vận chuyển khác nhau, từ các công trình và các mỏ dầu thoát ra ngoài môi trường tự nhiên do sự cố kỹ thuật, thiên tai hoặc do con người gây ra.

2. Hậu quả từ những sự cố tràn dầu.
2.1 Các sự cố tràn dầu trên biển.
Nó đã để lại những hậu quả nặng nề. Do ý thức của người dân còn hạn chế và tính chủ quan nên những sự cố tràn dầu trên biển hiện nay vẫn còn diễn ra nghiêm trọng. Theo thống kê của Hiệp hội các chủ hàng chở dầu quốc tế, trong số 39 quốc gia được thống kê, Việt Nam là một trong 3 quốc gia (cùng với Trung Quốc và Hoa Kỳ) có số lượng sự cố tràn dầu nhiều nhất với số lượng từ 10 sự cố trở lên, trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014.

Từ những sự cố này đã dẫn đến chúng ta đã mất đi một số lượng lớn nguồn lợi từ các loài hải sản và du lịch biển. Ngành du lịch cũng bị hạn chế và ảnh hưởng đến nền kinh tế của nước nhà khi ven bờ các bãi biển là các ván dầu thành cục hắc ín. Làm sao chúng ta có thể phát triển du lịch với các bờ biển bị ô nhiễm nặng nề như thế được.
Tràn dầu còn ảnh hưởng đặc biệt đến hệ sinh thái đặc biệt là các hệ sinh thái vùng ngập mặn, bãi cát, đầm phá và những rạn san hô… Hàm lượng dầu trong nước tăng cao làm mất đi nguồn oxy của các loài sinh vật dẫn đến số lượng các loài này bị giảm sút thậm chí là tuyệt chủng. Làm mất cán cân oxy giữa môi trường và nước. Phá vỡ đi các gen vi sinh vật và đẫn đến chết cả quần thể. Ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thức ăn của con người. Và còn gây khó khăn, ảnh hưởng đến hoạt động sinh sống của người dân vùng biển.
2.2 Các sự cố tràn dầu trên cạn.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế kéo theo sự phát triển của dầu mỏ. Nhu cầu sử dụng xăng/dầu của người dân cũng ngày một nhiều nhất là ở các thành phố lớn ở nước ta như: Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Cũng chính vì thế mà các sự cố tràn dầu từ các Doanh nghiệp kinh doang trong lĩnh vực xăng/ dầu hay rò rĩ từ các loại máy móc. Hay có thể là sự cố tràn dầu từ các bồn chứa của các cây xăng kinh doanh trên địa bàn. Có thể thấy dù là trên biển hay trên cạn thì sự cố tràn dầu luôn tìm ẩn và có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Như chúng ta cũng đã biết. Xăng, dầu ở trạng thái lỏng trong điều kiện thường, không hoà tan trong nước và có tỷ trọng nhỏ hơn nước. Tỷ trọng của chúng ở trong khoảng từ 0,67 – 0,93 và tuỳ thuộc vào từng loại cụ thể. Do đó, xăng dầu nổi trên mặt nước, khi xảy ra cháy nếu có nước sẽ làm lan truyền ngọn lửa đến các khu vực xung quanh một cách nhanh chóng. Đe dọa nghiêm trọng đến tài sản và tính mạng của chúng ta.
2. Nguyên tắc trong hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu.
Căn cứ Theo Điều 4 Quyết định số 12/2021/QĐ-TTg ngày 24 tháng 03 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu. Nguyên tắc trong hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu được ban hành cụ thể như sau:
- Tích cực phòng ngừa, chủ động xây dựng kế hoạch, đầu tư trang thiết bị, các phương án hợp đồng để sẵn sàng ứng phó khi xảy ra sự cố tràn dầu.
- Tổ chức tiếp nhận, xử lý thông tin sự cố tràn dầu kịp thời, ưu tiên bảo đảm thông tin cho hoạt động ứng phó, báo cáo kịp thời đến cấp có thẩm quyền khi vượt khả năng ứng phó.
- Phối hợp, huy động mọi nguồn lực để nâng cao hiệu quả chuẩn bị và ứng phó sự cố tràn dầu, ưu tiên các hoạt động để cứu người bị nạn và bảo vệ môi trường.
- Chủ động ứng phó gần nguồn dầu tràn để ngăn chặn, hạn chế dầu tràn ra môi trường. Giám sát chặt chẽ nguy cơ lan tỏa dầu tràn vào đường bờ để xác định thứ tự ưu tiên và tiến hành các biện pháp bảo vệ các khu vực ưu tiên bảo vệ.
- Đảm bảo an toàn, phòng chống cháy nổ trong ứng phó.
- Chỉ huy thống nhất, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ các lực lượng, phương tiện, thiết bị tham gia hoạt động ứng phó.
- Bên gây ra ô nhiễm tràn dầu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tràn dầu gây ra theo quy định của pháp luật.
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 10 tháng 5 năm 2021, thay thế Quyết định số 02/2013/QĐ-TTg ngày 14 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu, Quyết định số 63/2014/QĐ-TTg ngày 11 tháng 11 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu ban hành kèm theo Quyết định số 02/2013/QĐ-TTg ngày 14 tháng 01 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ.
3. Những lợi ích khi áp dụng các nguyên tắc trong hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu.
Các Ban lãnh đạo của các Doanh nghiệp nhà máy luôn chủ động xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu. Và tích cực phòng ngừa, đầu tư trang thiết bị đầy đủ góp phần vào việc ứng phó sự cố một cách nhanh chóng và hiệu quả. Hạn chế mức thấp nhất các hậu quả do sự cố gây ra. Góp phần vào việc tiết kiệm chi phí ứng phó cũng như là bồi thường thiệt hại.
Với các sự cố có quy mô lớn nằm ngoài khả năng kiểm soát của bộ phận thì cần báo cáo đến các cấp có thẩm quyên để hạn chế mức thiệt hại của sự cố. Tránh trường hợp sự cố lan rộng gây ảnh hưởng đến tính mạng con người.
Khi xảy ra sự cố tràn dầu chúng ta cần phối hợp tất cả các nguồn lực hiện có để ứng phó. Và đồng thời ưu tiên ứng cứu tính mạng con người là trên hết. Chúng ta cũng cần kết hợp giữa việc ứng phó sự cố với việc bảo vệ môi trường. Giúp chúng ta có thể hạn chế hậu quả mà sự cố gây ra với môi trường. Bảo vệ môi trường cũng chính là đang bảo vệ nguồn sống của chúng ta.

Các khu vực như rừng ngập mặn, dải san hô, khu dự trữ sinh quyển, điểm nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, khu bảo tồn sinh thái,khu di tích lịch sử đã được xếp hạng, khu du lịch, khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung. Là các khu vực chúng ta phải ưu tiên bảo vệ khi xảy ra sự cố. Đồng thời cần xác định và ngăn chặn kịp thời đầu mối xảy ra sự cố, tránh để dầu loang rộng ra ngoài môi trường.
Luôn đảm bảo an toàn trong công tác phòng cháy chữa cháy khi ứng phó sự cố vì xăng/ dầu là chất dễ xảy ra cháy, một khi đã cháy là lan rộng rất nhanh. Có thể kéo theo những hậu quả về người và của nặng nề. Vì vậy việc bảo đảm an toàn trong phòng cháy chữa cháy cũng là yếu tố cần quan tâm hàng đầu.
Bên gây ra ô nhiễm tràn dầu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tràn dầu gây ra theo quy định của pháp luật. Và các bị hại do ô nhiễm tràn dầu có quyền trực tiếp hoặc ủy quyền thông qua luật sư để khiếu nại chủ cơ sở, dự án hoặc chủ tàu gây ra sự cố tràn dầu bồi thường thiệt hại. Theo Điều 33 và Điều 34 Quyết định số 12/2021/QĐ-TTg ngày 24 tháng 03 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu.










Để lại một bình luận